... hu28m, tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn xếp, vai mang nải hoa ...

...

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2007

Đóng góp của người Việt trong Thống Kê

Những đóng góp quan trọng của người Việt trong khoa học thống kê

Nguyễn Văn Tuấn

Nói đến hai chữ “thống kê” có lẽ nhiều người nghĩ ngay đến những hoạt động mang tính “truyền thống” dưới hình thức như cân, đo, đong, đếm. Ngày xưa ở Âu châu, giới vua chúa, tu sĩ và các gia đình hoàng tộc sử dụng thống kê như là một công cụ quản lý tài sản, đất đai, nhân sự và dân số. Trong xã hội hiện đại, chính quyền cũng sử dụng thống kê như là một phương tiện quản lý kinh tế - xã hội. Bất cứ chính quyền nào cũng có các cơ quan thống kê chuyên thu thập và xử lý các thông tin về dân số, giáo dục, tình hình phát triển kinh tế, v.v… Nhà nước dựa vào những thông tin đó để vạch ra chính sách. Không có thông tin thống kê, nhà nước như người mù và điếc. Chính vì thế mà Lenin từng ví von rằng thống kê là tai, là mắt của nhà nước.

Khoa học thống kê

Nhưng bộ môn thống kê mà tôi muốn bàn ở đây không phải là các hoạt động truyền thống như mô tả trên, mà là khoa học thống kê (statistical science), tức là một bộ môn khoa học thực nghiệm: phát triển giả thiết khoa học, tiến hành thí nghiệm, phân tích dữ liệu, và diễn dịch dữ liệu. Có người thường nghĩ rằng thống kê là một công cụ của khoa học, nhưng tôi nghĩ rằng quan điểm đó không chính xác, vì trong thực tế, nhà thống kê học không chỉ là người đơn thuần làm phân tích dữ liệu, mà là một nhà khoa học, một nhà suy nghĩ (“thinker”) về nghiên cứu khoa học.

Khoa học thống kê đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, một vai trò không thể thiếu được trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm như y khoa, sinh học, nông nghiệp, hóa học, và ngay cả xã hội học. Thí nghiệm dựa vào các phương pháp thống kê học có thể cung cấp cho khoa học những câu trả lời khách quan nhất cho những vấn đề khó khăn nhất.

Làm sao chúng ta biết phẫu thuật A có hiệu quả tốt hơn phẫu thuật B? Làm sao chúng ta biết aspirin có thể đem lại lợi ích cho bệnh nhân? Trong số 25 ngàn gen trong cơ thể con người, gen nào có khả năng gây ra ung thư, tiểu đường, loãng xương? Làm sao chúng ta biết một giống lúa mới có sản lượng cao hơn giống lúa cũ? Làm sao chúng ta biết được quá trình học vấn ở cấp phổ thông có ảnh hưởng đến kết quả học tập ở bậc đại học? Tại sao trẻ học sinh tiểu học ở nông thôn hay bỏ học? Làm sao chúng ta biết những đặc tính nào của cà phê được người tiêu thụ ưa chuộng, và có sự khác biệt về sở thích giữa nam và nữ hay không? Một số du khách vào Việt Nam có xu hướng “một đi không trở lại”, vậy yếu tố nào đã làm cho họ có xu hướng đó? Làm sao chúng ta biết người dân ủng hộ chính sách A mà không là chính sách B? Vân vân và vân vân. Đó là những vấn đề mà thống kê học có thể cung cấp câu trả lời khách quan và đáng tin cậy nhất.

Chẳng hạn như vấn đề bệnh teo cơ delta (có khi gọi là bệnh “chim sệ cánh”) mà ngành y tế nước ta đang đương đầu hiện nay. Cho đến nay dù đã xảy ra hơn 2000 trường hợp trên toàn quốc, mà các chuyên gia vẫn chưa biết chính xác nguyên nhân hay các yếu tố nguy cơ nào gây nên bệnh! Chính vì không có dữ liệu trong tay, cho nên có khá nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành đề xuất nhiều yếu tố nguy cơ dựa vào những phát biểu cá nhân và chung chung như “theo ý kiến của tôi”, hay “qua kinh nghiệm 50 năm hành nghề của tôi”, hay “tôi nghĩ rằng”. Nhưng trong khoa học, không có cái gọi là “theo ý kiến của tôi” hay “theo kinh nghiệm của tôi”, vì khoa học dựa vào dữ liệu thực tế được quan sát và đo lường chính xác (hay ít ra là khá chính xác) để phát hiện một yếu tố nguy cơ cho bệnh tật, hay nói chung là để phát biểu một định đề. Và, để có những dữ liệu đó, nhà khoa học phải tiến hành thí nghiệm.

Một thí nghiệm khoa học được bắt đầu bằng một ý tưởng, một giả thiết, và để thử nghiệm giả thiết đó, một qui trình khảo sát phải được tiến hành theo các bước chung như: thiết kế, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, và diễn dịch ý nghĩa của dữ liệu. Mỗi một bước trong qui trình đó đều có sự cống hiến quan trọng của thống kê học. Những câu hỏi then chốt đặt ra là: phải thiết kế một công trình thí nghiệm như thế nào, cần bao nhiêu bệnh nhân, có cần nhóm đối chứng (tức không bị bệnh) hay không, phương pháp thu thập dữ liệu như thế nào, phải đo lường cái gì, phân tích dữ liệu ra sao, v.v…Đó là “địa hạt” hoạt động của khoa học thống kê.

Những vấn đề trên chẳng những mang tính khoa học, mà còn mang tính đạo đức khoa học. Nếu không giải quyết thỏa đáng, có thể làm cho công trình nghiên cứu trở nên vô dụng và như thế nhà nghiên cứu có tội với bệnh nhân và tình nguyện viên.

Một trong những khía cạnh cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu là xác định số lượng đối tượng hay bệnh nhân cần thiết để khảo sát. Một công trình nghiên cứu nếu không có đủ bệnh nhân hay tình nguyện viên, thì dữ liệu thu thập được sẽ không có giá trị khoa học cao. Ngược lại, nếu công trình nghiên cứu tuyển dụng quá nhiều bệnh nhân hơn số cần thiết, chẳng những gây ra phiền hà (có khi nguy hiểm) cho bệnh nhân một cách không cần thiết. Trong cả hai trường hợp, nhà nghiên cứu vi phạm đạo đức khoa học, và trong trường hợp nghiên cứu y khoa, đó là một vi phạm y đức. Do đó, hoạt động của khoa học thống kê không chỉ giới hạn trong các vấn đề khoa học, mà còn bảo vệ một khía cạnh của đạo đức khoa học.

Phân tích thống kê là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong các công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm. Một công trình nghiên cứu khoa học, cho dù có tốn kém và quan trọng cỡ nào, nếu không được phân tích đúng phương pháp sẽ không bao giờ có cơ hội được xuất hiện trong các tập san khoa học. Ngày nay, chỉ cần nhìn qua tất cả các tập san nghiên cứu khoa học trên thế giới, hầu như bất cứ bài báo y học nào cũng có phần “Statistical Analysis” (Phân tích thống kê), nơi mà tác giả phải mô tả cẩn thận phương pháp phân tích, tính toán như thế nào, và giải thích ngắn gọn tại sao sử dụng những phương pháp đó để hàm ý “bảo kê” hay tăng trọng lượng khoa học cho những phát biểu trong bài báo. Các tập san y học có uy tín càng cao yêu cầu về phân tích thống kê càng nặng. Không có phần phân tích thống kê, bài báo không thể xem là một “bài báo khoa học”. Không có phân tích thống kê, công trình nghiên cứu chưa được xem là hoàn tất.

Trong khoa học thống kê, có hai trường phái “cạnh tranh” song song với nhau, đó là trường phái tần số (frequentist school) và trường phái Bayes (Bayesian school). Phần lớn các phương pháp thống kê đang sử dụng ngày nay được phát triển từ trường phái tần số, nhưng hiện nay, trường phái Bayes đang trên đà “chinh phục” khoa học bằng một suy nghĩ “mới” về khoa học và suy luận khoa học. Phương pháp thống kê thuộc trường phái tần số thường đơn giản hơn các phương pháp thuộc trường phái Bayes. Có người từng ví von rằng những ai làm thống kê theo trường phái Bayes là những người thiên tài!

Để hiểu sự khác biệt cơ bản giữa hai trường phái này, có lẽ cần phải nói đôi qua vài dòng về triết lý khoa học thống kê bằng một ví dụ về nghiên cứu y khoa. Để biết hai thuật điều trị có hiệu quả giống nhau hay không, nhà nghiên cứu phải thu thập dữ liệu trong hai nhóm bệnh nhân (một nhóm được điều trị bằng phương pháp A, và một nhóm được điều trị bằng phương pháp B). Trường phái tần số đặt câu hỏi rằng “nếu hai thuật điều trị có hiệu quả như nhau, xác suất mà dữ liệu quan sát là bao nhiêu”, nhưng trường phái Bayes hỏi khác: “Với dữ liệu quan sát được, xác suất mà thuật điều trị A có hiệu quả cao hơn thuật điều trị B là bao nhiêu”. Tuy hai cách hỏi thoạt đầu mới đọc qua thì chẳng có gì khác nhau, nhưng suy nghĩ kỹ chúng ta sẽ thấy đó là sự khác biệt mang tính triết lý khoa học và ý nghĩa của nó rất quan trọng. Đối với người bác sĩ (hay nhà khoa học nói chung), suy luận theo trường phái Bayes là rất tự nhiên, rất hợp với thực tế. Trong y khoa lâm sàng, người bác sĩ phải sử dụng kết quả xét nghiệm để phán đoán bệnh nhân mắc hay không mắc ung thư (cũng giống như trong nghiên cứu khoa học, chúng ta phải sử dụng số liệu để suy luận về khả năng của một giả thiết).

Cống hiến của người Việt


Trong những người Việt ở nước ngoài làm khoa học, số nhà khoa học thống kê cũng không nhiều, nếu không muốn nói là “đếm đầu ngón tay”. Và họ cũng là những nhà khoa học “trầm lặng”, bởi vì những công trình nghiên cứu của họ khó có thể trở thành một bản tin, một câu chuyện trên báo chí hay hệ thống truyền thông đại chúng. Phát triển một phương pháp xử lý số liệu, tuy có thể có ảnh hưởng cơ bản đến tất cả các ngành khoa học hàng trăm năm, nhưng khó mà hấp dẫn so với một khám phá về gen liên quan đến bệnh tật.

Tuy số nhà khoa học thống kê gốc Việt trên thế giới không nhiều, nhưng họ có nhiều đóng góp quan trọng (có khi rất quan trọng) cho khoa học thống kê. Trong số những người có những cống hiến quan trọng đó, phải kể đến giáo sư Phạm Gia Thụ tại Đại học Moncton ở Canada (mà Người viễn xứ có một bài viết về ông - "Đất nước đang thời kỳ xây dựng, đoàn kết, tiến lên") và giáo sư Huỳnh Huynh, thuộc Đại học South Carolina (Mỹ). Có lẽ nhiều người Việt Nam ở trong nước, kể cả giới khoa học, ít biết đến hai người này, nhưng trong giới thống kê học, họ là hai nhà khoa học có tiếng và có ảnh hưởng quan trọng. Ông Huỳnh Huynh thuộc trường phái tần số và ông Phạm Gia Thụ thuộc trường phái Bayes.

Như đề cập trong phần trên, trong các nghiên cứu khoa học, việc xác định số lượng đối tượng cần thiết cho công trình nghiên cứu cực kỳ quan trọng, vì nó chẳng những là vấn đề khoa học mà còn là vấn đề đạo đức khoa học. Đóng góp quan trọng của ông Phạm Gia Thụ trong lĩnh vực này xác định số lượng đối tượng nghiên cứu (hay xác định cỡ mẫu – sample size determination) theo lý thuyết của trường phái Bayes có thể nói là cơ bản. Trong một bài báo đăng trên tập san The Statistican năm 1992 (1) giáo sư Thụ đã mở ra một hướng đi cho lĩnh vực này. Tiếp tục công trình năm 1992, ông Thụ còn cho xuất bản một số công trình có giá trị trên các tập san có uy tín cao trong khoa học thống kê như Journal of the Royal Statistical Society (Anh), Statistics, Communications in Statistics-Theory and Methods, Mathematical and Computer Modelling, v.v… Kể từ khi công trình nghiên cứu năm 1992, cho đến nay không một bài báo khoa học nào về xác định cỡ mẫu theo trường phái Bayes mà không nhắc đến bài báo của tác giả “Pham-Gia T” (tức ông Phạm Gia Thụ).

Trong khoa học, có một công trình nghiên cứu chẳng những được nhiều đồng nghiệp trên thế giới tham khảo, mà còn được đồng nghiệp tham gia bình luận, khen ngợi là một vinh dự lớn. Công trình của giáo sư Thụ là một công trình như thế: được tham khảo rất nhiều lần, và được ban biên tập tập san mời đồng nghiệp trên thế giới tham gia bình luận. Cho đến nay, nếu một nhà khoa học nào mới bước vào nghiên cứu về lĩnh vực này mà “quên” không nhắc đến tác giả Pham-Gia thì chắc chắn sẽ bị người bình duyệt nhắc nhở ngay: đề nghị tác giả tham khảo công trình của Pham-Gia! Khi một công trình khoa học về lĩnh vực xác định cỡ mẫu theo trường phái Bayes, ông còn được ban biên tập tập san mời bình luận (2).

Trong nhiều nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu phải so sánh nhiều nhóm đối tượng, và mỗi nhóm thường được thẩm định (đo lường) nhiều lần. Chẳng hạn như trong nghiên cứu về hiệu quả của hai loại thuốc trong việc điều trị loãng xương, nhà nghiên cứu phải có hai nhóm bệnh nhân, mỗi bệnh nhân sẽ được mời tái khám nhiều lần để nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu. Trong thuật ngữ thống kê, người ta gọi đó là nghiên cứu dạng repeated measure design (thiết kế tái đo lường). Một trong những khó khăn trong việc phân tích các dữ liệu thu thập từ những nghiên cứu này là có nhiều giá trị cho mỗi bệnh nhân. Vào đầu thế kỉ 20, giáo sư Ronald Fisher, nhà thống kê học người Anh và cũng là “cha đẻ” của khoa học thống kê ứng dụng, có đề suất một phương pháp phân tích có tên là phân tích phương sai (analysis of variance) cho các thí nghiệm có nhiều nhóm đối tượng, mà sau này sách giáo khoa gọi là kiểm định F (lấy chữ cái của tên ông Fisher đặt tên cho phương pháp). Nhưng phương pháp của ông Fisher có vấn đề khi ứng dụng vào nghiên cứu tái đo lường vì sự tương quan giữa các giá trị đo lường trong mỗi đối tượng nghiên cứu không được điều chỉnh thỏa đáng. Vấn đề này kéo dài mãi đến năm 1970, đến khi có công trình của ông Huynh và đồng tác giả Feldt. Trong một bài báo chỉ 7 trang rất quan trọng đăng trên tập san số 1 của khoa học thống kê, Journal of the American Statistical Association hay JASA (3), hai ông Huynh và Feldt đã giải quyết vấn đề này bằng cách chỉ ra điều kiện cần thiết để kiểm định F có ý nghĩa thống kê.

Công trình của ông Huynh và Feldt gây một tiếng vang cực kỳ lớn trong khoa học thống kê, đến nỗi bất cứ phần mềm máy tính nào, bất cứ sách giáo khoa nào, bất cứ bài báo nào về phân tích phương sai tái đo lường đều tham khảo bài báo năm 1970 của hai ông. Rất ít công trình nghiên cứu nào trong thống kê học lại có ảnh hưởng sâu rộng như thế, và cái tên Huynh và Feldt nay đã trở thành những cái tên quen thuộc: “The Huynh-Feldt epsilon” hay “Two-factorial Huynh-Feldt test”. Có thể nói không ngoa rằng đó là một trong những bài báo khoa học có ảnh hưởng lớn đến khoa học (chứ không riêng gì khoa học thống kê) trong thế kỉ 20. Bạn đọc có thể gõ “Huynh-Feldt” trên Google sẽ thấy bao nhiêu bài báo nói về phương pháp này!

Đến năm 1976, hai ông Huynh và Feldt lại công bố một công trình nghiên cứu chỉ 13 trang gây thêm tiếng vang trong ngành mà sau này người ta hay nhắc đến với thuật ngữ “The Huynh-Feld correction” (4). Ngoài hai công trình tiêu biểu này, ông Huynh còn có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thẩm định giáo dục bằng phân tích thống kê được công bố trên các tập san số 1 trong ngành tâm lý học và thống kê tâm lý học như Psychometrika, Psychological Bulletin, hay nghiên cứu thống kê giáo dục (Journal of Educational Statistics, Journal of Educational Measurement).


Khoa học thống kê ở Việt Nam


Trong vòng trên dưới 100 năm qua, thống kê học đã nhanh chóng tiến vào tất cả các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, và trong quá trình chinh phục, thống kê học tạo nên những bộ môn nghiên cứu mới. Các bộ môn đó có thể kể đến như biometry (sinh trắc học), technometrics (kỹ thuật trắc học), bioinformatics (thông tin học), psychometry (tâm lý trắc học), anthropometry (nhân trắc học), v.v… Thật vậy, khoa học thống kê đã chi phối đến tất cả các bộ môn khoa học, và ảnh hưởng của các nhà thống kê đã, nói theo Maurice Kendall, “lan tràn đến mọi bộ môn khoa học với sự chinh phục nhanh chóng sánh ngang hàng với Attila, Mohammed, và loài bọ Colorado” (“Statisticians have already over-run every branch of science with a rapidity of conquest rivalled by Attila, Mohammed, and the Colorado beetle” (Maurice Kendall, 1942).

Tuy khoa học thống kê đã góp phần tạo nên diện mạo khoa học hiện đại ngày nay, nhưng ở nước ta, khoa học thống kê còn rất kém. Trong khi bất cứ đại học nào ở các nước tiên tiến đều có một bộ môn thống kê học, một bộ môn chuyên cung cấp tư vấn về thống kê học cho các nhà khoa học thực nghiệm, thì ở nước ta, các bộ môn khoa học vẫn còn giới hạn ở khoa toán, và chỉ xoay quanh một vài vấn đề căn bản thống kê.

Sự “lạc hậu” về khoa học thống kê ở nước ta đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến khoa học nước nhà. Vì các bộ môn khoa học thực nghiệm ở nước ta chưa được sự hỗ trợ từ khoa học thống kê, cho nên rất nhiều nghiên cứu khoa học ở nước ta chưa có chất lượng cao, và chưa thể công bố trên các tập san khoa học quốc tế. Người viết bài này biết rất nhiều trường hợp nhiều nghiên cứu từ Việt Nam chỉ vì không được thiết kế đúng phương pháp, hay việc phân tích dữ liệu chưa đúng tiêu chuẩn khoa học nên bị các tập san khoa học từ chối công bố. Hệ quả là sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Chỉ tính trong ngành y sinh học mà thôi, trong vòng 40 năm qua, số lượng bài báo từ các nhà khoa học ở Việt Nam chỉ trên dưới con số 300. Con số này cực kỳ khiêm tốn nếu so với 5.000 từ Thái Lan hay trên 20.000 từ Singapore.

Như đã đề cập phần trên, một công trình nghiên cứu dù có tốn bao nhiêu tiền, bao nhiêu năm tháng, mà không được thiết kế đúng và không được phân tích đúng phương pháp thì không thể xem là “khoa học”. Muốn thiết kế nghiên cứu đúng và phân tích dữ liệu đúng tiêu chuẩn, cần phải có sự đóng góp của khoa học thống kê và nhà thống kê học. Nhưng Việt Nam thiếu các nhà khoa học thống kê. Tuy nước ta có một viện toán học bề thế và có uy tín trên trường quốc tế, thì những môn học thiết thực nhất và căn bản nhất về thống kê ứng dụng lại nhờ các chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy ngắn hạn. Mấy năm gần đây, trong quá trình hội nhập với thế giới, chúng ta phát hiện rằng khoa học nước ta còn kém về thống kê ứng dụng, và các cơ quan tài trợ học bổng phải gửi sinh viên ta đi học ở nước ngoài, kể cả … Thái Lan!

Do đó, để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học ở nước ta, một chiến lược quan trọng cần đặt ra là phát triển khoa học thống kê trong các trường đại học. Chúng ta cần rất nhiều nhà khoa học thống kê trong bất cứ lĩnh vực nghiên cứu nào. Ở nước ta, để phát triển khoa học nói chung và công nghệ sinh học nói riêng, chúng ta cần một đội ngũ nhà khoa học thống kê hơn là cần một đội ngũ nhà toán học. Người viết bài này tin rằng cùng với thế mạnh của toán học Việt Nam hiện nay, đội ngũ các nhà khoa học thống kê gốc Việt ở nước ngoài có thể và có khả năng đóng góp một phần công sức cho chiến lược phát triển khoa học nước nhà.

Chú thích

(1) T. Pham-Gia and Turkkan. Sample Size Determination in Bayesian Analysis. The Statistician 1992; 41(4), 389-397 - with: Comments by C. Adcock, 399-404.

(2) Pham-Gia T. Sample Size Determination in Bayesian Analysis: a Commentary. The Statistician, JRSS, Series D 1995;44:163-166.

(3) Huynh H, Feldt LS. Conditions under which mean square ratios in repeated measurement designs have exact F distributions. Journal of the American Statistical Association 1970; 65:1582-1589.

(4) Huynh H, Feldt LS. Estimation Box correction for degrees of freedom from sample data in the randomized block and split-plot designs. Journal of Educational Statistics 1976; 1:69-82.

Xin nói thêm rằng người viết bài này chỉ ngưỡng mộ công trình nghiên cứu, nhưng chưa quen biết và chưa bao giờ gặp mặt hai nhà khoa học thống kê đề cập trong bài viết.

- Nguyễn Văn Tuấn (Australia)

Phải chăng ngành toán học Việt Nam đã quá lãng phí ...

(VietNamNet) - Theo dõi tranh luận về làm toán và học toán trên VietNamNet gần đây, là một nghiên cứu sinh thế hệ 8X ngành toán, tôi muốn chia sẻ một số ý kiến của mình.

Đầu tư cho toán học được bao nhiêu?

Trình bày kết quả nghiên cứu tại một hội thảo toán học tháng 7/2005

Phải chăng, Nhà nước đã đầu tư quá nhiều cho ngành toán lý thuyết (cứ cho là vậy, mặt dù theo GS Hà Huy Khoái, trong toán rất khó phân biệt đâu là ứng dụng đâu là lý thuyết) đến mức một số người đã yêu cầu đừng đầu tư nữa? Tôi tự hỏi, Nhà nước đã đầu tư đặc biệt gì cho chúng tôi so với những ngành khác?

Tôi không biết nhiều về thời kì trước của các bác, các chú. Riêng bản thân, sau khi tốt nghiệp ĐH loại giỏi, tôi trở thành cán bộ giảng dạy ở khoa toán của một trường ĐH trọng điểm và nhận mức lương 500.000 đồng từ năm 2003, đến tháng 9/2005 là khoảng 700.000 đồng. Thêm vào đó, tôi tham gia đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước với các thầy, thu nhập được tăng thêm 100.000 đồng mỗi tháng. Số tiền tuy ít nhưng tôi vẫn đam mê vì những kiến thức mà mình thu được, tạo tiền đề phát triển nghề nghiệp sau này.

Để đầu tư cho SV ngành toán, nhà nước chỉ cung cấp cho chúng tôi một vài máy tính có thể truy cập Internet trong khi các ngành khác phải đầu tư gấp nhiều hơn. Học bổng 322 cho ngành toán cũng chẳng được ưu tiên so với các ngành khác nếu không muốn nói là ít hơn.

Như vậy, bảo Nhà nước đừng đầu tư cho ngành toán nữa, phải chăng chúng ta nên dẹp hết các khoa toán ở các trường ĐH hay là cho dân toán một mức lương dưới mức tối thiểu của xã hội?

Hiện nay, có phải ngành toán thu hút nhiều HS quá giỏi nên chúng ta phải khuyên HS giỏi đừng đi vào ngành toán, đi học toán sẽ phí tài năng, đi ngành khác sẽ đóng góp cho đất nước nhiều hơn?

Có thể nhận thấy rằng, điểm chuẩn vào ĐH ở chuyên ngành toán ở nước ta thấp hơn những ngành khác. Như vậy, mặt bằng SV khoa toán không giỏi hơn SV ngành khác. Tôi cũng đồng ý với quan niệm, không nên để tình trạng “nhà nhà đi học toán, người người đi học toán”. Nhưng nếu không có ai giỏi đi theo ngành này thì quả là một mối nguy cho đất nước. 20 năm sau, chẳng lẽ chúng ta thuê người nước ngoài vào dạy toán và nghiên cứu toán cho Việt Nam ư? Có lẽ lúc đó chúng ta nên mua gạo của Thái Lan ăn nốt.

Toán lý thuyết của VN có phụ lòng đầu tư của Nhà nước và nhân dân?

Nhiệm vụ chính của chúng tôi là giảng dạy toán và làm toán. Chúng tôi dạy cho ai? Dạy cho những người sẽ thành giáo viên dạy toán các cấp học và hầu hết SV các ngành khác ở ĐH. Thế giới đánh giá Việt Nam thuộc loại khá về toán học. Điều đó không có ích lợi kinh tế hay văn hóa ư? Vậy nên chăng, chúng ta không đầu tư các môn thể thao như cờ vua, bida, kiếm thuật v.v... Các vận động viên ấy đem được lợi ích kinh tế gì cho đất nước nếu dựa theo quan niệm ích lợi hữu hình? Tôi tự hỏi, tại sao Intel đầu tư vào Việt Nam hay lý do gì Bill Gate phải mất một chuyến đi dài đến Việt Nam? Vì thị trường tiềm năng, vì nhân công rẻ và quan trọng nhất, dân Việt Nam có khả năng tư duy. Nhìn vào đâu để thấy khả năng đó, phải chăng cũng đã nhìn vào nền toán học Việt Nam?

Nếu giải thưởng Clay của GS Ngô Bảo Châu, một trong những giải thưởng uy tín nhất của thế giới dành cho ngành toán, là không đáng được ca ngợi vậy chúng ta nên ca ngợi cái gì ở ngành toán Việt Nam? Chẳng là gì cả thật vô lý. Vậy thì TS Ngọc nên đề nghị thu hồi lại giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà toán học Việt Nam luôn thể.

Tôi không đồng ý với quan niệm của TS Ngọc về vấn đề một vài suất học bổng tiến sĩ nước ngoài mà một GS toán Việt kiều tìm được không có ý nghĩa gì nhiều.

Theo kiến thức của tôi, để cấp một học bổng học tiến sĩ ở nước ngoài cho SVVN, dự án 322 phải đầu tư ít nhất 500 triệu đồng. Một phép tính rất đơn giản, ta cứ cho rằng cả đời làm toán của một GS Việt kiều sẽ tìm cho Việt Nam được 3 suất học bổng thì số tiền đóng góp gián tiếp cho nhà nước là 1.5 tỷ đồng. Thật ra, số tiền này quá nhỏ so với những quan chức như Bùi Tiến Dũng hay Nguyễn Việt Tiến nhưng đối người dân nghèo như gia đình tôi thì đây là quá lớn.

Đó chỉ là những đóng góp mà ta có thể nhìn thấy rõ ràng ở các Việt kiều làm toán. Ngoài ra, các thầy còn đóng góp những mặt khác, rất “vô hình”, chỉ có ai tâm huyết với đất nước và có tầm nhìn sâu rộng mới cảm nhận được.

Những HS giỏi đã “lỡ” đi theo ngành toán liệu có đóng góp ích lợi về kinh tế cho đất nước thấp hơn so với việc theo học các ngành khác? Vấn đề này tôi xin không bình luận vì vượt quá tầm hiểu biết bé nhỏ của mình. Nhưng tôi chỉ nêu trường hợp của cá nhân mình.

Tôi vốn là HS bình thường của một tỉnh nhỏ. Nhờ đam mê toán và các thầy tận tình hướng dẫn, tôi đã tìm được học bổng NSC sau khi tốt nghiệp cao học trong nước. Mỗi năm học ở nước ngoài, tôi có thể dư được cả trăm triệu đổng để gửi về cho gia đình ở Việt Nam, (số tiền này, một người bạn học giỏi hơn tôi thời cấp 3 hiện làm ở FPT phải tiết kiệm hơn 5 năm).

Tôi cũng được biết một số thầy làm toán ở trong nước, hằng năm được mời sang nước ngoài dạy và nghiên cứu ngắn hạn với mức lương khoảng 4000 USD/tháng. Chắc chắn số tiền các thầy mang về nước sau đợt trao đổi hợp tác này là không ít, chưa kể đến mối quan hệ quốc tế quí giá không thể đếm được bằng tiền.

Hằng năm, số tiền của những Việt kiều làm toán (trên 200 người) gửi về Việt Nam cho gia đình hẳn không phải nhỏ. Tôi nghĩ, tổng số tiền này đôi khi nhiều hơn mức xuất khẩu của một công ty tin học lớn ở Việt Nam. Như vậy, nói là xuất khẩu chất xám” không có gì ngụy biện cả. Có chăng là xuất khẩu chất xám quá “vô hình” nên ít người nhìn thấy được.

Để chúng tôi, những người đã “lỡ” đi theo ngành toán có thể đóng góp cho xã hội, mong các bác, các chú hãy dành tâm huyết góp ý xây dựng một chương trình dạy toán căn bản phù hợp và mang tính ứng dụng, thiết thực hơn cho việc nghiên cứu và làm việc. Mặt khác, chương trình học dành cho lớp chuyên toán sẽ thật sự là chuyên toán. Có mối liên hệ giữa các người làm toán và những nhà chuyên môn về kinh tế, kỹ thuật và các ngành khoa học khác để nâng cao toán học VN lên tầm cao mới.

Tôi cũng muốn nhắn nhủ với các em HS, nếu các em đam mê và có khả năng thì cứ học toán. Mọi người đều có thể đóng góp sức mình cho đất nước bằng cách này hay cách khác. Khi các em phát huy sở trường của mình, nhất định các em sẽ có cuộc sống ổn định và có cơ hội đóng góp sức mình cho nước nhà. Nếu các em thần tượng Bill Gates, chính Bill Gates bảo các em nên cố gắng học toán đấy thôi. Riêng tôi, tôi rất tâm đắt với câu nói của Bill Gates “Tôi không thể nào nói hết được tầm quan trọng của công cuộc đào tạo toán học đối với không chỉ máy tính mà với mọi lĩnh vực khác (kinh tế, kỹ thuật). Toán là môn khoa học căn bản nhất.”

  • Hồng Minh

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2007

Ai Đưa Em Về

Ai Đưa Em Về

Sáng tác: Nguyễn Ánh


1.
Đêm nay ai đưa em về
Đường khuya sao trời lấp lánh
Đêm nay ai đưa em về
Mắt em sao chiếu long lanh

Đêm nay khi em đi rồi
Đường khuya riêng một mình tôi
Đêm nay khi em đi rồi
Tôi về đếm bước lẻ loi

Điệp khúc:

Người yêu ơi trong tình muộn
Người yêu ơi trong tình buồn
Trọn tình yêu ta đã cho nhau
Hãy quên niềm đau

Thời gian ơi xin dừng lại
Thời gian ơi xin dừng lại
Cho đôi tình nhân
Yêu trong muộn màng
Đừng khóc ly tan

2.
Đêm mai ai đưa em về
Mình em trên hè phố vắng
Đêm mai ai đưa em về
Mắt em lệ ướt long lanh

Đêm mai không ai đưa về
Người ơi xin đừng hờn dỗi
Đêm nay cô đơn đi về
Xin người hãy nhớ tình tôi

Áo lụa Hà Đông

Áo lụa Hà Đông

Sáng tác: Nguyễn Sa

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà thu dài lắm ở chung quanh
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị kỷ tâm hồn
Thơ học trò anh chắp lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

Em không nói đã nghe từng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

Xa anh giận mắt anh nhìn vụng dại
Giận thì anh đã nói chẳng nên lời
Em đi mà xem hoa rụng hẹn mùa
Những ngày tháng hẹn vui luôn từng nặng

Em ở đâu? hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2007

Bắt cá hai tay - Gặp nhau cuối tuần





(Người ta nói) ... Có một người trải qua biết bao cuộc tình, ngỡ rằng mình là người hạnh phúc nhất trên đời. Đến một ngày, bước chân mỏi mệt, bỗng nhìn lại: không còn ai đứng bên ta ...

Vẫn nhớ - Xuân Bắc

Vẫn nhớ

Biểu diễn: Xuân Bắc biểu diễn trong Gặp nhau cuối tuần



Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2007

Ba Bà Đi Bán Lợn Con

Ba Bà Đi Bán Lợn Con

Sáng tác: Lê Cao Pha

Ba bà đi bán lợn con bán đi chẳng được lon ton chạy về
Ba bà đi bán lợn xề bán đi chẳng được chạy về lon ton
Ba thằng cu tí chạy theo lấy cây chọc lợn cho kêu rồi cười
Ba thằng cu Tí học lười trốn đi cùng mẹ chọc hoài đàn heo.